Thứ ba, ngày 10-08-2010
Công cụ làm việc cá nhân


THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CỘNG HOÀ NHÂN DÂN BĂNG-LA-ĐÉT VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM

I. Khái quát chung:

- Thủ đô : Đắc-ca (Dhaka).

- Vị trí địa lý : Nằm ở phía Đông Bắc của tiểu lục địa Ấn Độ, Tây, Bắc và Đông giáp Ấn Độ; Đông Nam giáp Myanmar và Nam giáp Vịnh Bengal.

- Đặc điểm tự nhiên, khí hậu : Nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm. Mùa hè nhiệt độ trung bình từ 24 độ C - 39 độ C; mùa Đông từ  18 đến 23 độ C.

- Diện tích: 148.393 km2.

- Dân số: 141,34 triệu người (tính đến 7/2005).

- Tôn giáo : 88,3% dân số theo Hồi giáo, còn lại Ấn Độ giáo (10,5%), Phật giáo (0,6%), Thiên chúa giáo và tín ngưỡng khác  (0,6%)…

- Ngôn ngữ: Tiếng Bengali (khoảng 95% dân sử dụng); tiếng Anh được sử dụng rộng rãi.

- Ngày Quốc khánh : 26/3/1971.

- Tiền tệ: Đồng Takar

II. Lịch sử phát triển:

Trước năm 1947, Băng-la-đét là một phần lãnh thổ của tiểu lục địa Ấn Độ (Đông Ben-gal) thuộc Anh. Sau đó, là một bộ phận của Pa-ki-xtan (Đông Pa-ki-xtan. Đến 26/3/1971, nước Cộng hoà Nhân dân Băng-la-đét được thành lập. Sếch Mu-gi-bua Ra-man trở thành Tổng thống đầu tiên của Băng-la-đét.

Năm 2001, Đảng Dân tộc Băng-la-đét (BNP) liên minh với 3 đảng nhỏ khác thắng cử, thành lập chính phủ do bà Kha-lê-đa Di-a, Chủ tịch đảng BNP làm Thủ tướng. Tháng 10/2006, Chính phủ BNP hết nhiệm kỳ, chính phủ tạm quyền phi đảng phái được thành lập để chuẩn bị cho Tổng tuyển cử.

III. Thể chế chính trị và đảng phái:

Từ tháng 9/1991, Băng-la-đét chuyển từ chế độ Tổng thống sang chế độ dân chủ nghị viện.

- Chính phủ: là cơ quan hành pháp cao nhất. Đứng đầu là Thủ tướng Chính phủ.

- Quốc hội (Jatiya Sangsad) là cơ quan lập pháp tối cao gồm 330 đại biểu (30 ghế dành riêng cho phụ nữ), được bầu trực tiếp thông qua Tổng tuyển cử với nhiệm kỳ 5 năm.

- Nguyên thủ quốc gia: Đứng đầu Nhà nước là Tổng thống, do Quốc hội bầu ra với nhiệm kỳ 05 năm. 

- Băng-la-đét có khoảng 100 đảng phái, trong đó 3 đảng lớn là Đảng Dân tộc Băng-la-đét (BNP), Liên đoàn Nhân dân (Awami League, AL), Jatiya Party (Đảng Dân tộc). 

- Lãnh đạo hiện nay:

+ Tổng thống: Lajuddin Ahmed.

+ Cố vấn trưởng Chính phủ tạm quyền: Fakhruddin Ahmed.

+ Cố vấn đối ngoại Chính phủ tạm quyền: Iftekhar Ahmed Chowdhury.

IV. Kinh tế-xã hội: 

- Năm 2006, thu nhập bình quân đầu người của Băng-la-đét khoảng 482 USD/năm. Kinh tế giai đoạn 2001-2005 có nhiều nét khởi sắc với mức tăng GDP bình quân đạt 5% năm; Năm 2006 đạt 6%; dự trữ ngoại tệ đạt 4 tỷ USD.  

- Về các ngành kinh tế:

 + Nông nghiệp: Hiện nông nghiệp đóng góp khoảng 25% GDP và thu hút 63% lực lượng lao động; Năm 2005 tổng sản lượng đạt khoảng 26,3 triệu tấn. Các nông sản chính là lúa gạo, đay, chè, mía, khoai tây, thuốc lá, bông, hạt có dầu…  

 + Công nghiệp: Chiếm 26,5% GDP và thu hút khoảng 12% lực lượng lao động. Tăng trưởng hàng năm đạt trên 7%. Năm 2005 đạt xấp xỉ 7,8%. Các ngành công nghiệp chính là chế biến đay, đường, chế biến lương thực, dệt, sản xuất phân bón, dược phẩm, xi măng, đồ gốm điện tử v.v...

 + Thương mại: Từ khi tiến hành tự do hoá và mở cửa kinh tế cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90, xuất khẩu luôn đạt mức tăng trưởng cao. Năm tài chính 2003-2004, xuất khẩu đạt khoảng 7,6 tỷ USD; 2004-2005 đạt khoảng  8,58 tỷ USD; 2005-2006 đạt 10,5 tỷ USD . Bắc Mỹ, Tây Âu ( Đức, Anh), Úc, Nhật là các thị trường xuất khẩu lớn nhất chiếm trên 60%. Các mặt hàng chính là quần áo may sẵn, nông sản, đông lạnh (đặc biệt là tôm), dược phẩm, đồ gốm, điện tử, đồ thủ công,chè đay, đồ da…Nhập khẩu cũng tăng trên 10% hàng năm, đạt 9,8 tỉ USD năm  2004 và trên 10 tỷ USD năm 2005. Sản phẩm chính là: máy móc thiết bị, hóa chất, sắt thép, dầu thô và các sản phẩm từ dầu, xi măng, gạo, mì, sữa, thực phẩm, đường, bông thô…

 + Đầu tư nước ngoài: Năm 2003 là 368 triệu USD; năm 2004: 458 triệu USD; năm 2005: 653 triệu USD; 2006: 2,5 tỷ USD. Liên minh châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản chiếm 60%, các nước Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á chiếm 35,79%.

 +  Xuất khẩu lao động: Đây là mặt mạnh của Băng-la-đét. Hiện có khoảng 2 triệu lao động Băng-la-đét làm việc ở nước ngoài, mỗi năm chuyển về nước khoảng 3 tỷ USD; năm 2006 đạt tới 4,5 tỷ USD.

V. Đối ngoại:

- Băng-la-đét thi hành chính sách đối ngoại hoà bình, không liên kết, hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước, coi trọng tăng cường quan hệ với Ấn Độ và các nước láng giềng Nam Á, thực hiện chính sách hướng Đông coi trọng phát triển quan hệ với các nước Đông Nam Á và các nước Châu Á-TBD; đẩy mạnh quan hệ với các nước Hồi giáo; mở rộng quan hệ với các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, các nước Tây Âu, Nhật Bản...

- Băng-la-đét là thành viên của LHQ, Phong trào KLK, Tổ chức các nước Hồi giáo (IOC) và Khối Liên hiệp Anh, Tổ chức hợp tác các nước Nam Á (SAARC), Nhóm hợp tác kinh tế liên khu vực BIMSTEC, Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), Diễn đàn đối thoại châu Á (ACD)…và là thành viên ARF năm 2006. Hiện Băng-la-đét đang vận động để tham gia tiến trình hợp tác Á-Âu (ASEM).

VI. Quan hệ Việt Nam - Băng-la-đét:

- 1972 – 1990: Ngay sau khi được thành lập, Băng-la-đét luôn quan tâm theo dõi và ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta. Chính phủ Băng-la-đét lên án Mỹ ném bom miền Bắc. Phong trào quần chúng ủng hộ Việt Nam chống Mỹ lên rất cao và lan rộng trên cả nước. Băng-la-đét là nước đầu tiên ở Nam Á và là nước thứ 2 ở châu Á không theo CNXH công nhận và lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Ngày 11/2/1973, Việt Nam và Băng-la-đét chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, trao đổi kinh tế, thương mại giữa hai bên còn hạn chế do kinh tế hai nước có khó khăn.

- 1990 đến nay: Quan hệ hai bên có nhiều bước phát triển mới quan trọng cả về chính trị và kinh tế. Tháng 11/1993, Băng-la-đét lập Đại sứ quán tại Hà Nội và ta mở lại Đại sứ quán tại Đắc-ca từ tháng 1/2003. Hai bên đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao: Thủ tướng Võ Văn Kiệt (1997), Chủ tịch nước Trần Đức Lương (2004) thăm Băng-la-đét, Thủ tướng Kha-lê-đa Di-a (05/2005) thăm Việt Nam. Hai bên họp UBHH lần đầu tiên tại Việt Nam (6-7/2/2006).

- Hai bên đã ký kết 14 Nghị định, thỏa thuận, Hiệp định về hợp tác chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư,...Hai bên hợp tác tốt trên diễn đàn quốc tế  như LHQ, Không liên kết, ASEAN...

- Quan hệ thương mại Việt Nam-Băng-la-đét hiện còn khiêm tốn nhưng đang phát triển theo chiều hướng tốt, tăng trung bình 20% năm. Kim ngạch hai chiều năm 2002 đạt 14 triệu USD (Việt Nam xuất 7 triệu USD, nhập 7 triệu USD), năm 2003, đạt 20 triệu USD (Việt Nam xuất 12 triệu USD, nhập 8 triệu USD), năm 2004  đạt 39 triệu USD ( Việt Nam xuất 17,8 triệu USD, nhập 21,2 triệu USD), năm 2005 đạt 76 triệu USD (Việt Nam xuất 22 triệu USD, nhập 54 triệu USD). Trong chuyến thăm ta của Thủ tướng Kha-lê-đa Di-a 5/2005, hai bên đã đề ra mục tiêu 100 triệu USD vào năm 2008.

- Việt Nam xuất sang Băng-la-đét chủ yếu gồm các mặt hàng như: vải, sản phẩm chất dẻo, sản phẩm mây, tre, cói và thảm, cao su, máy vi tính, sản phẩm điện tử, gỗ, gốm, sứ ...Các sản phẩm nhập khẩu gồm: tân dược, vải các loại, nguyên phụ liệu dệt may da, sợi các loại, máy móc, thiết bị dụng cụ và phụ tùng, linh kiện điện tử, phân U-rê...

VII- Các Hiệp định, Thỏa thuận đã ký giữa hai nước:

- Hiệp định vận chuyển hàng không (1993),

- Bản ghi nhớ về tham khảo chính trị giữa hai Bộ ngoại giao (1994),

- Hiệp định  hợp tác kinh tế và khoa học-kỹ thuật (1994),

- Hiệp định thương mại (1996),

- Hiệp định văn hoá (1997),

- Hiệp định thành lập Uỷ ban Hỗn hợp về hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật (1997),

- Hiệp định hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam và Hãng thông tấn Băng-la-đét (1997),

- Thoả thuận hợp tác giữa Phòng Thương mại-Công nghiệp Việt Nam và Liên đoàn các Phòng Thương mại-Công nghiệp Băng-la-đét (1997),

- Thoả thuận hợp tác về phát triển nguồn nước và kiểm soát lũ lụt (1999),

- Hiệp định miễn thị thực cho hộ chiếu ngoại giao, công vụ (1999),

- Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (2004),

- Nghị định thư về hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp (2004),

- Nghị định thư về chương trình trao đổi văn hoá giai đoạn 2004-2007 (2004),

- Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (05/2005). 

(Tháng 7/2007)